Lý Tam Giang cõng Lý Truy Viễn về đến nhà khi chân trời vừa hửng sáng.
Thôi Quế Anh đón lấy đứa trẻ, Lý Tam Giang nói chuyện với Lý Duy Hán một lát rồi rời đi.
Lý Truy Viễn được đặt nằm trên giường chiếu, đôi mắt nhắm lại một lát rồi lại mở ra.
Cậu không ngủ được, cứ nhắm mắt lại là như thấy bóng dáng Tiểu Hoàng Oanh đang nhảy múa trong ao cá.
Thôi Quế Anh và Lý Duy Hán không vào buồng trong nghỉ ngơi mà ngồi lặng lẽ trong bếp.
Người đàn bà không ngừng chà xát ngón tay đến mức ửng đỏ; người đàn ông liên tục rít điếu bát, hết nõ này đến nõ khác.
Nhìn thấy trời đã sáng rõ, Thôi Quế Anh đứng dậy nói: “Tôi đi nấu bữa sáng cho lũ trẻ đây.”
Lý Duy Hán nhả ra một làn khói, nói: “Khói bếp lên hơi sớm rồi.”
Thôi Quế Anh đành ngồi xuống lại, nhìn lão già nhà mình: “Thế phải đợi đến bao giờ?”
“Đợi người đến thông báo.”
“Ai đến thông báo?”
Lý Duy Hán không trả lời, chỉ tiếp tục ngậm lấy đầu điếu.
Ngồi thêm một lúc nữa, tiếng gõ cửa vang lên:
“Quế Anh Hầu, Quế Anh Hầu ơi.”
Là hàng xóm Triệu Tứ Mỹ.
Lý Duy Hán gõ gõ điếu bát, nói: “Thông báo đến rồi đấy.”
Thôi Quế Anh đứng dậy, vừa ngáp vừa dụi mắt mở cửa, vẻ mặt thắc mắc: “Có chuyện gì thế, Tứ Mỹ Hầu?”
Triệu Tứ Mỹ nắm lấy cánh tay Thôi Quế Anh, lay mạnh:
“Nhà Đại Hồ Tử có người chết rồi!”
“Cái gì?”
“Chết cả hai, Đại Hồ Tử và thằng con út, vừa bị người ta phát hiện nổi trong ao cá nhà mình. Mọi người đều kéo ra xem rồi, đi, tạp môn cùng ra xem thế nào!”
“Đi!”
Thôi Quế Anh trước khi ra khỏi cửa còn hét vọng vào buồng trong: “Anh Hầu, gạo vo sẵn rồi, lát nữa cháu nấu bữa sáng nhé.”
“Cháu biết rồi, Nãi nãi.”
Sau khi nghe tiếng đáp lại, Thôi Quế Anh cùng Triệu Tứ Mỹ vội vàng rời đi.
Lý Duy Hán đợi một lát, sờ vào bao thuốc lá đã bóc trong túi, đặt điếu bát lên bàn rồi cũng bước ra cửa.
Tiếng gõ cửa của Triệu Tứ Mỹ lúc nãy thực chất đã làm đám trẻ thức giấc. Biết có chuyện lớn xảy ra, lũ trẻ cũng lần lượt bật dậy chạy ra ngoài xem náo nhiệt.
Mặc cho Anh Tử ở phía sau hét khản cổ bảo “đánh răng rửa mặt” cũng chẳng gọi được đứa nào quay lại.
Lúc này, quanh ao cá nhà Đại Hồ Tử đã vây kín người. Trên đường làng, dân làng vẫn không ngừng kéo đến, đủ mọi lứa tuổi, già trẻ gái trai, dắt díu cả nhà.
Trên mặt ao nổi lề bề hai cái xác, chẳng ai dám lại gần xử lý, dù ngay mép ao có đậu một chiếc thuyền nhỏ.
Dù nhà Đại Hồ Tử mang tiếng xấu trong làng, nhưng dân làng cũng không đến mức lạnh lùng như vậy;
Sở dĩ không ai giúp đưa xác lên bờ là bởi hai cái xác đó trông giống như miếng bánh quy bị ngâm nước quá lâu, trương phình đến dị dạng, bề mặt lại hiện ra màu thịt trong suốt như khối bì lợn đông khổng lồ.
Xác chết đuối ngâm lâu sẽ trương lên thì ai cũng biết, nhưng hai người hôm qua còn sống sờ sờ, sao chỉ sau một đêm đã như mộc nhĩ được ngâm nở thế này?
Chuyện này thực sự quá đỗi tà môn, khiến không ai dám xuống chạm vào cái xác.
Vợ của Đại Hồ Tử ngồi bệt bên mép ao gào khóc thảm thiết, nhưng bà ta chỉ biết khóc chứ chẳng biết phải làm gì. Có người đến khuyên nhủ bà cũng không màng, chỉ mải miết than thân trách phận mạng mình khổ.Bạn đang đọc truyện tại
Cuối cùng, thằng con cả nhà Đại Hồ Tử từ trên trấn chạy về, coi như cũng có người đứng ra chủ trì công việc.
Nhưng thằng cả nhìn thấy hình dạng của cha và em trai mình lúc này thì sợ đến mức mặt mày co giật. Hắn cũng chẳng dám xuống vớt người, đành phải cầu xin người ta đi mời Lý Tam Giang.
Lý Tam Giang đẩy một chiếc xe ba gác tới, trên xe là đồ nghề vớt xác của ông.
Đến nơi, Lý Tam Giang nhìn lướt qua tình hình trên mặt ao, lập tức tỏ vẻ kinh hãi, xua tay lùi lại:
“Cái này thái gia đây không dám vớt đâu, vớt vào là tổn thọ, tổn thọ đấy! Tìm người khác đi, mau tìm người khác!”
Tiếng kêu của ông khiến dân làng vây quanh xôn xao, bắt đầu xì xào bàn tán xem nhà Đại Hồ Tử rốt cuộc đã gây nên tội nghiệt gì mà rước phải tà uế phương nào.
Rất nhanh, có người nhắc lại chuyện Tiểu Hoàng Oanh ngày hôm qua. Dù sao ban nhạc đám tang cũng đã suýt đánh nhau tại nhà Đại Hồ Tử, mà ở cái làng này, bí mật vốn là thứ khó giữ.
Lý Duy Hán lúc này cũng lên tiếng, kể lại cho những người xung quanh nghe chuyện mình dẫn các cháu đi thuyền ra sông hôm qua. Ông nói cháu ngoại mình bị rơi xuống nước, gặp ác mộng thấy một người đàn bà đi dưới nước, sợ đến mức mê man không tỉnh, Trịnh Đại Phu đến xem cũng vô dụng, may mà Lưu mù đến xử lý mới xong.
Ngay lập tức, rất nhiều người xúm lại nghe Lý Duy Hán kể, rồi không ngừng đưa ra ý kiến của mình.
Thôi Quế Anh đứng cạnh Lý Duy Hán với vẻ mặt vô cùng căng thẳng. Ngày thường, nếu không phải nấu cơm giặt giũ, bà có thể ngồi buôn chuyện với đám đàn bà trong làng suốt ba ngày ba đêm, nhưng hôm nay, bà lại lúng túng chẳng dám mở lời.
Trong lòng bà đang thấy chột dạ và hoang mang, giống như kẻ trộm đi hô hoán bắt trộm, hay như con mèo đi khóc thương con chuột vậy.
Phan Tử, Lôi Tử, Hổ Tử và Thạch Đầu cũng bắt đầu kể lể, bảo hôm qua thấy một con ma da đàn bà, suýt chút nữa đã kéo Tiểu Viễn Hầu nhà mình xuống làm thế thân, đó là về tìm người báo thù đấy!
Nhất thời, xung quanh như mở ra một buổi tiệc trà lộ thiên lớn. Sau khi chuyện của Tiểu Hoàng Oanh được bàn tán đến nát nước, dân làng vẫn chưa thấy đã thèm, còn lôi cả những chuyện xấu xa từ đời tám hoánh nào của nhà Đại Hồ Tử ra để thêu dệt tiếp.
Chẳng bao lâu sau, thằng con thứ hai nhà Đại Hồ Tử đưa vợ về, hai đứa con gái cũng dẫn theo chồng chạy đến. Hai cô con gái ôm lấy mẹ khóc ròng, còn hai thằng con trai và hai thằng rể đứng lại bàn bạc giá cả với Lý Tam Giang.
Lý Tam Giang làm giá rất gắt, lấy cớ một lần vớt đôi lại gặp xác chết tà tính, đòi thẳng giá gấp mười lần so với vớt một người bình thường.
Sau khi thỏa thuận xong tiền nong, Lý Tam Giang bày bàn cúng, dâng lễ thắp nến đốt vàng mã. Ông còn khuyến mãi thêm nửa tiếng đồng hồ lầm rầm khấn vái “gọi bạn gọi bè”, thu hút toàn bộ ánh nhìn của đám đông.
Dù màn biểu diễn này không rầm rộ như ban nhạc đám tang, nhưng ai cũng hiểu ban nhạc chỉ là đồ mã, vị này mới là thợ chuyên nghiệp.
Trong lúc đó, hai chiếc xe Santana chạy tới, trên nóc gắn đèn cảnh sát, là người của đồn cảnh sát trên trấn đến.
Bình thường ai đó đuối nước thì thôi, không phải chuyện gì quá lớn; nhưng lần này cả cha lẫn con cùng chết đuối ngay trước cửa nhà, tính chất sự việc đã khác hẳn.
Cảnh sát lại gần xem xét tình hình cũng không khỏi sững sờ. Xác chết trương phình họ không phải chưa từng thấy, nhưng chưa bao giờ thấy cái xác nào trương lên một cách “tinh xảo” như thế này.
Thấy vậy, họ cũng đành phải đợi xác được vớt lên rồi tính tiếp. Họ không ngắt quãng nghi lễ của Lý Tam Giang nhưng cũng chẳng lại gần, mà quay về phía xe đỗ bên đường hút thuốc chờ đợi.
Cuối cùng, Lý Tam Giang cũng bận rộn xong. Ông cắt tiết một con gà trống, vãi ra một bát thứ nước không rõ có phải máu chó đen thật hay không, rồi mới xuống ao, chèo chiếc thuyền nhỏ ra giữa ao.
Đầu tiên dùng “dẫn lộ câu” móc lấy cái xác vào mạn thuyền, rồi dùng “hồi hồn khấc” cố định và kéo xác lên thuyền, tiếp đó dùng “quy gia võng” phủ lên cái xác. Sau khi chèo thuyền vào bờ, ông cúi người, hạ đầu, dùng một thế tay đặc biệt đưa cái xác lên lưng mình rồi bước lên bờ.
Đây là một quy tắc rất quan trọng trong nghề vớt xác, chân người vớt phải chạm bờ trước rồi mới được hạ xác xuống, vì đó mới là “cõng”, là “đưa” người quá cố về nhà.
Cuối cùng, phải dưới tiếng gọi mời của chủ nhà mới được đặt xác xuống, coi như có đi có lại, hoàn thành xong công việc, để cái xác biết mình đã thực sự về nhà, không đến mức biến thành cô hồn dã quỷ bám theo người vớt.
Làm lại đúng các bước đó hai lần, cha con Đại Hồ Tử cuối cùng cũng kết thúc cuộc hành trình trôi nổi, được đặt nằm trên hai tấm chiếu manh.
Mọi việc xong xuôi, Lý Tam Giang có chút sợ hãi nhìn về vùng trung tâm ao cá. Lúc nãy ông chỉ làm đúng quy trình vớt xác chứ chẳng dám thăm dò sâu hơn.
Trời mới biết, liệu chị ta có còn ở bên trong hay không.
Cảnh sát tiến lại ngăn cách khu vực để xác, nhưng dân làng chẳng quan tâm, vẫn đứng từ xa nghển cổ nhìn theo, thỉnh thoảng lại vang lên tiếng hét sợ hãi của lũ trẻ con.
Lý Tam Giang nhận tiền, thu dọn đồ nghề rồi ngậm điếu thuốc đẩy xe về. Dân làng xung quanh đều dạt ra nhường đường, hạng người vừa vớt xác xong, ai cũng tránh như tránh tà.
Cảnh sát bắt đầu chính thức điều tra, địa điểm làm việc tạm thời đặt ngay tại nhà Đại Hồ Tử. Trưởng làng cũng đến hỗ trợ gọi người, đun nước pha trà.
Vợ Đại Hồ Tử chẳng nói ra được điều gì cụ thể. Bà ta chỉ biết tỉnh dậy không thấy lão già nằm cạnh, mãi đến khi có người đi qua ao cá thấy hai cha con nổi lề bề mới gọi bà dậy.
Vị phó đồn dẫn đội hỏi trưởng làng xem trong làng ai có thù oán với nhà Đại Hồ Tử. Trưởng làng ngoáy tai, trả lời một câu chẳng mặn chẳng nhạt:
“Chao ôi, cái đó thì hơi bị nhiều đấy.”
Tiếp đó, những người có thù oán xếp hàng dài để làm bản tường trình.
Cả Lý Duy Hán cùng Phan Tử, Lôi Tử – những người kể câu chuyện về “Tiểu Hoàng Oanh” cũng bị gọi ra thẩm vấn.
Ban đầu, cảnh sát tưởng rằng lại phát hiện thêm một cái xác nữa, còn cử cảnh viên theo Lý Duy Hán ra đoạn sông đó tìm kiếm nhưng chẳng thấy gì. Cộng thêm lời kể của Lý Duy Hán quá mức ly kỳ, họ chỉ coi đó là câu chuyện mê tín của một ông già nông thôn kể để dọa các cháu.
Bản tường trình này chẳng biết có nên ghi vào hay không. Lý Duy Hán thấy mọi người không tin thì phát cáu, liên tục khẳng định những gì mình gặp là thật, cứ bám lấy cảnh sát và mọi người bắt họ phải tin mình, cuối cùng vẫn bị trưởng làng “dỗ” đi chỗ khác.
Ban nhạc đám tang đến gây sự hôm qua sau đó cũng bị triệu tập điều tra, nhưng họ đã sang xã bên cạnh làm việc từ hôm trước, cả ban nhạc đều có bằng chứng ngoại phạm.
Về phần Tiểu Hoàng Oanh mất tích và những rắc rối bên trong, một là vì người hoặc xác vẫn chưa tìm thấy, hai là những người liên quan trực tiếp là cha con Đại Hồ Tử đều đã chết, nên chỉ có thể ghi nhận là một vụ mất tích.
Vụ cha con chết đuối này cuối cùng cũng được xử lý theo kết quả điều tra tai nạn. Ý tứ đại khái là cha con Đại Hồ Tử đêm khuya uống rượu, cao hứng ra ao cá làm loạn rồi chết đuối cả hai.
Người nhà Đại Hồ Tử cũng chẳng buồn truy cứu tiếp, vì đám tang vừa xong, hai thằng con trai và hai cô con gái đã cãi nhau đòi chia gia tài, cạch mặt nhau trông rất khó coi, lại tạo thêm một đề tài bàn tán cho dân làng.
Hôm đó, làm xong bản tường trình đã là lúc hoàng hôn. Lý Duy Hán và Thôi Quế Anh dẫn lũ trẻ về nhà, lũ trẻ chạy phía trước, hai thân già lững thững theo sau.
Thôi Quế Anh vừa vỗ ngực vừa sợ hãi hỏi: “Sao ông lại chủ động nhảy ra kể chuyện đó thế, còn bị cảnh sát gọi đi thẩm vấn nữa, làm tôi sợ muốn chết.”Bạn đang đọc truyện tại
Lý Duy Hán tùy ý vứt bao thuốc lá không ra ven đường, mím môi nói:
“Thái gia dạy đấy, phải nói ra, không được giấu trong lòng. Chuyện của Tiểu Viễn Hầu, Trịnh Đại Phu và Lưu Kim Hà cũng đều biết đôi chút rồi.”
Thôi Quế Anh cằn nhằn: “Thì bảo họ một tiếng, giữ bí mật là được chứ gì.”
Lý Duy Hán lắc đầu: “Dù người lớn có biết giữ bí mật, nhưng lũ trẻ liệu có giữ nổi mồm không nói hớ ra không?”
“Chuyện này…”
Lý Duy Hán thở dài một tiếng, rồi nói:
“Thái gia bảo, cách giữ bí mật tốt nhất là công khai bí mật đó cho tất cả mọi người.”
…
Người trong làng hầu như đều kéo ra ao cá nhà Đại Hồ Tử xem náo nhiệt, nhưng Lý Truy Viễn không đi. Cậu nằm trên giường mãi mà không ngủ được, đành bê cái ghế đẩu nhỏ ra ngồi ngoài sân nhìn cánh đồng xa xa.
Một lát sau, Anh Tử vừa rửa bát xong cũng bước ra. Chị bê theo một cái ghế vuông, bên trên bày sẵn bút mực và sách vở bài tập, rồi ngồi xuống ghế nhỏ. Một chiếc bàn học đơn sơ hình thành như thế, còn mặt trời rạng rỡ chính là chiếc đèn bàn.
Phụ mẫu của Anh Tử chưa bao giờ thực sự để tâm đến chuyện học hành của chị, nhưng cũng chưa từng nói những lời như “con gái học hành chẳng để làm gì”, “thà lấy chồng sớm còn hơn”, hay “nhờ vả xin vào nhà máy dệt mà kiếm tiền”.
Đến kỳ đóng học phí thì đưa tiền, tiền tài liệu thường ngày chị cứ việc hỏi mà không cần e thẹn hay thấy tội lỗi, đó là chuyện đương nhiên.
Nhưng cái gì cũng sợ bị so sánh. So với những đứa con gái khác trong làng, kiểu phụ mẫu của Anh Tử – cứ mặc kệ chẳng quan tâm – lại vô tình trở thành tấm gương coi trọng giáo dục con gái.
Anh Tử biết rõ, điều này là nhờ sự ảnh hưởng từ người cô út Lý Lan.
Năm đó cô út nhờ vào con đường học hành mà một bước thay đổi số phận, trở thành niềm tự hào của Gia gia Nãi nãi. Ngay cả Phụ thân và các bác mỗi khi nhắc đến cô út với người ngoài cũng không tự chủ được mà ưỡn ngực đầy kiêu hãnh.
Tuy nhiên thành tích học tập của Anh Tử chỉ ở mức trung bình, dù chị thực sự rất nỗ lực và không hề lơ là;
Gia gia Nãi nãi năm đó đương nhiên không cố tình hy sinh con trai để nuôi con gái, mà thực tế là Phụ thân và các bác của chị đầu óc thực sự không nhét nổi chữ nào.
Điều này không khỏi khiến chị hoài nghi, chẳng lẽ cái đầu óc thông minh của họ Lý đều dồn hết cho cô út rồi?
Ban đầu ý nghĩ này chỉ thoáng qua, không quá mạnh mẽ, cho đến ngày thứ hai khi Tiểu Viễn Hầu được đưa tới đây. Cậu bé có chút rụt rè ngồi cạnh chị, khi chị đang vò đầu bứt tai trước một bài toán mãi không ra kết quả, bên tai bỗng vang lên một câu nhỏ nhẹ:
“Căn bậc hai của 3.”
Sau đó, hễ có bài nào không làm được, Anh Tử đều mang ra hỏi Lý Truy Viễn. Chị còn phát hiện ra Tiểu Viễn Hầu gần như chẳng cần suy nghĩ, chỉ liếc mắt qua đề bài là có thể đọc ngay đáp án.
Có lẽ với cậu, rắc rối lớn nhất nằm ở chỗ phải viết ra các bước giải bài, nếu không thì người chị khờ khạo này sẽ không hiểu nổi!
Nên nhớ, chị đã lên lớp mười rồi đấy.
Anh Tử từng hỏi cậu ở Kinh thành học lớp mấy, Lý Truy Viễn trả lời: Lớp thiếu niên.
Anh Tử theo bản năng hiểu “Lớp thiếu niên” là lớp tiểu học, liền cảm thán trong lòng: Đúng là học sinh tiểu học thủ đô, chương trình học vượt bậc thật.
Lý Truy Viễn cứ ngồi thẫn thờ như vậy, thỉnh thoảng sực tỉnh lại giúp chị giải một bài toán rồi lại tiếp tục thẫn thờ.
Cảm thấy có nắp bút đang chọc nhẹ vào mình, Lý Truy Viễn quay đầu lại định xem đề bài, nhưng thấy chị lại chỉ tay về phía tây sân. Ở đó có một bậc thềm, dưới bậc thềm là một cô bé mặc váy hoa.
Là Thúy Thúy, cháu gái của Lưu mù. Con bé e thẹn đứng đó, chẳng dám bước lên.
Anh Tử nhíu mày nhìn Lý Truy Viễn, ra hiệu bảo đừng để ý đến con bé.
Gặp ngày thường chị đã mắng đuổi đi rồi, vì lũ trẻ trong làng đều có một quy ước chung là không chơi với con bé. Nhưng ngày hôm qua mẹ con Lưu mù dù sao cũng đã sang nhà “khám bệnh” cho em trai, nên giờ chị thấy khó mở lời.
Lý Truy Viễn đứng dậy, chủ động đi về phía mép sân đến trước mặt Thúy Thúy, mỉm cười hỏi:
“Bạn đến rồi à, có chuyện gì không?”
Thúy Thúy nhìn về hướng khác, ngón tay vê vê vạt váy, nói: “Tớ đến rủ bạn chơi.”
“Được thôi.” Lý Truy Viễn quay lại vẫy tay với Anh Tử: “Chị ơi, em đi chơi với Thúy Thúy nhé.”
Anh Tử không nói gì, thở dài một tiếng rồi cúi đầu tiếp tục làm bài tập.
Thực ra chơi cũng chẳng có gì vui, nhiều khi chỉ đơn giản là không muốn ở nhà nữa, thế là chạy sang nhà bạn, gọi bạn ra rồi cả lũ cùng nhau đi lang thang vô định.Đọc truyện chữ hay mỗi ngày tại website
Thúy Thúy nhìn Lý Truy Viễn đang đi bên cạnh mình, ánh mắt tràn đầy niềm vui. Đây là lần đầu tiên con bé học theo lũ trẻ khác trong làng, chạy sang nhà người ta gọi bạn đi chơi.
Tuy nhiên, con bé vẫn chẳng dám tự tiện bước lên sân nhà người khác. Trẻ con ở độ tuổi này có thể nhiều chuyện không hiểu, nhưng lại rất nhạy cảm. Nó không muốn phải nhận những cái lườm nguýt từ người lớn.
“Anh Truy Viễn, mẹ em bảo hôm qua anh bị ốm à?”
“Ừ.” Lý Truy Viễn được nhắc lại chuyện này, trong đầu lại hiện lên hình ảnh Tiểu Hoàng Oanh, nụ cười trên môi dần tắt lịm.
“Dạ?” Thúy Thúy vội vàng xin lỗi: “Em không nhắc nữa, không nhắc nữa đâu, bị ốm đúng là khó chịu thật.”
Lý Truy Viễn sờ sờ vào túi áo, áy náy nói: “Ừm, anh quên mang đồ ăn vặt cho em rồi.”
Thực ra không phải quên, mà vì Gia gia Nãi nãi không có nhà, cái tủ đựng đồ ăn vặt đã bị khóa, không mở được; Anh Tử chắc là biết chỗ giấu chìa khóa, nhưng Lý Truy Viễn biết nếu mình vào nhờ chị lấy đồ thì chị sẽ lại nói xấu Thúy Thúy cho mà xem.
“Đồ ăn vặt à? Nhà em có đấy, nhiều lắm, sang nhà em ăn đi.”
“Sang nhà em à?”
“Vâng, sang nhà em chơi.”
“Được thôi.”
Được đồng ý, Thúy Thúy lấy hết can đảm chủ động nắm lấy tay Lý Truy Viễn, cả hai cùng đi trên con đường mòn giữa ruộng.
Lúc này, con bé rất hy vọng những người lớn ngồi hóng mát trên sân nhà ven đường nhìn thấy mình mà hỏi một câu: “Chao ôi, Thúy Thúy Hầu đang chơi cùng ai thế?”
Cũng hy vọng trên đường gặp được bạn cùng lứa, để chúng thấy rằng mình cũng đã có bạn chơi cùng.
Chỉ tiếc là phần lớn người trong làng đều kéo ra ao cá nhà Đại Hồ Tử xem “bì lợn đông” rồi.
Thế nhưng con bé vẫn rất vui, khóe miệng cứ nhếch lên mãi chẳng chịu hạ xuống. Nếu không phải đang nắm tay, nó thấy mình chắc sẽ vui đến mức xoay vòng vòng mất.
“Anh Truy Viễn, có phải anh nghe không hiểu tiếng của bọn em nói lắm không?”
“Lúc đầu thì hoàn toàn không hiểu, sau đó nói chậm lại và nói câu ngắn thì hiểu được. Giờ thì không chỉ hiểu hết mà tự kỷ còn biết nói một ít nữa kìa, chỉ là nói chưa chuẩn lắm thôi.”
Hồi cậu mới được đưa tới đây, nghe các bậc trưởng bối nói chuyện, cậu thực sự chẳng hiểu gì cả, chỉ có đám anh chị em đã đi học mới có thể dùng tiếng phổ thông để giao tiếp với cậu.
Nhớ lại hồi đó mỗi lần mình gọi Lý Duy Hán và Thôi Quế Anh là “ngoại công ngoại bà”, họ đều lộ rõ vẻ không vui, rồi liên tục sửa lại bắt cậu phải gọi là “Gia gia Nãi nãi“.
Ở đây đúng là không có cách gọi “ngoại công ngoại bà”, phần lớn thời gian để phân biệt bà nội và bà ngoại người ta thường dùng phương vị, ví dụ nhà ở hướng nam gọi là “Nãi nãi Nam”, nhà hướng bắc gọi là “Nãi nãi Bắc”.
“Đúng rồi anh Truy Viễn, anh đã từng đi Cố Cung chưa?”
“Ừ, anh đi rồi.”
“Sau này em cũng muốn đi.”
“Được chứ, hôm nào bạn gọi anh, anh dẫn bạn đi.”
“Thật không, anh không được lừa em đâu nhé?”
“Không lừa bạn đâu, anh rành Cố Cung lắm.”
Trong ký ức của Lý Truy Viễn, có một khoảng thời gian Lý Lan làm việc tại Cố Cung, cậu bị bỏ mặc trong đó tự chơi đùa. Có những lúc cậu ngồi trên bậc thềm cửa ngách, ôm một con mèo mướp nhìn dòng du khách nườm nượp vào cửa chính, nhìn suốt cả một buổi chiều.
“Đúng rồi anh Truy Viễn, anh đã từng uống nước đậu (đậu trấp) chưa?”
“Ừm…”
“Có uống chưa ạ?” Thúy Thúy chớp đôi mắt to tròn tò mò nhìn sang.
“Uống rồi.”
“Có ngon không anh, nước đậu có vị gì thế ạ?”
Vị gì nhỉ?
Trong đầu Lý Truy Viễn hiện lên hình ảnh Thôi Quế Anh đang kỳ cọ cái hũ dưa chua bị hỏng của nhà tuần trước.
“Có người thích, cũng có người không thích.”
“Vậy ạ, sau này đi Bắc Kinh nhất định em phải nếm thử mới được.”
“Ừ.”
“Anh Truy Viễn nhìn kìa, đó là nhà em.”
Theo hướng tay Thúy Thúy chỉ, Lý Truy Viễn nhìn thấy một ngôi nhà hai tầng phía sau một thửa ruộng.
“Nhà bạn ở nhà lầu à.”
Trong làng có đủ mọi kiểu nhà, phần lớn là nhà gạch ngói một tầng, số ít nhà khó khăn thì vẫn ở nhà đất. Ngược lại, số ít nhà có điều kiện đã tiên phong xây nhà lầu hai tầng.
Bước lên sân nhà Thúy Thúy, ở phòng khách tầng một, Lưu mù đang ngậm điếu thuốc đánh bài bridge.
Bạn bài là hai bà lão và một ông lão. Đến đánh bài với Lưu mù thì sẽ được ăn chực ở nhà bà, cơm nước khá tốt, có thịt có rượu, nên Lưu mù chẳng bao giờ thiếu bạn bài. Bà cũng sẵn lòng bỏ ra chút chi phí “mua” người đến bầu bạn giải khuây.
Bàn bài đúng là một nơi kỳ diệu. Lưu mù rõ ràng bị đục thủy tinh thể, ánh mắt không tốt, vậy mà chẳng hề ảnh hưởng đến tốc độ ra bài của bà.
“Bà ơi, cháu dẫn anh Truy Viễn đến nhà chơi này.”
“Lưu Nãi nãi.” Lý Truy Viễn chào một tiếng.
“Ừ, chơi đi.” Lưu mù đáp một tiếng, lại dồn sự chú ý vào đống bài trên tay: “Ăn!”
Vừa lúc nãy, đám người đánh bài còn đang bàn tán về chuyện đang xảy ra ở nhà Đại Hồ Tử. Lưu mù vừa nhả vòng khói vừa thản nhiên đáp lời. Nghe thấy cháu gái mình dẫn Lý Truy Viễn vào, bà không khỏi hơi sững người lại, đôi mắt nheo lại sau làn khói thuốc.
Thằng bé này hôm qua trúng tà, sáng nay cha con nhà Đại Hồ Tử đã nổi lề bề trong ao cá.
Chuyện này nếu không có gì mờ ám, đánh chết Lưu Kim Hà bà cũng không tin.
Tuy nhiên bà cũng không lên tiếng ngăn cản cháu gái chơi với Lý Truy Viễn. Hừ, đều là lũ sao chổi cả, tị nạnh làm quái gì.
Thúy Thúy dẫn Lý Truy Viễn đi xuyên qua sảnh chính vào buồng trong. Ở đó, Lý Cúc Hương đang ngồi trên ghế nhỏ nhặt rau. Thấy con gái dẫn người về, cô hơi bất ngờ, nhưng vừa thấy là Lý Truy Viễn, trên mặt cô không kìm được hiện lên nụ cười.
Hình ảnh này khiến cô nhớ lại ngày nhỏ, lúc Lý Lan cùng chơi đùa với mình.
Lý Cúc Hương lập tức đứng dậy, lau hai tay vào tạp dề: “Ngồi đi Tiểu Viễn Hầu.”
Sau đó, cô lập tức vào phòng lấy ra không ít đồ ăn vặt để đãi khách. Điều kiện nhà Lưu mù thực sự rất tốt, vả lại trong nhà chỉ có mỗi Thúy Thúy là trẻ con nên con bé có được chế độ đồ ăn vặt khiến lũ trẻ trong làng đều phải thèm thuồng.
Lý Cúc Hương còn mở hai chai nước ngọt vị chanh, đưa cho Lý Truy Viễn và Thúy Thúy mỗi người một chai.
Loại nước giải khát có ga có hình dáng giống chai bia này giá rẻ, rất được ưa chuộng. Lũ trẻ cũng lười rót ra bát mà cứ thế cầm chai tu ừng ực, bắt chước vẻ hào sảng của người lớn lúc uống rượu.
“Tiểu Viễn Hầu, mẹ cháu vẫn khỏe chứ?”
“Dạ khỏe ạ, A di.”
“Nghe nói mẹ cháu ly…” Lý Cúc Hương chợt nhận ra hỏi trẻ con chuyện này không hợp, liền đổi giọng: “Cô và mẹ cháu hồi nhỏ hay chơi với nhau lắm, tình cảm rất tốt.”
“Vâng, mẹ cháu có kể về cô đấy ạ, Cúc Hương A di.”
Thông thường hậu tố “Hầu” chỉ dùng cho bậc bề trên gọi kẻ dưới hoặc bằng hữu gọi nhau, kẻ dưới không được dùng.Chương truyện này được copy từ
Nhưng Lý Cúc Hương đương nhiên không vì thế mà giận, ngược lại cô còn thấy rất vui. Cô có thể tưởng tượng ra cảnh Lý Lan nói với con trai về mình, dùng cách gọi “Cúc Hương Hầu”, điều đó chứng tỏ chị ấy vẫn chưa quên mình.
“Mẹ cháu hồi đó thông minh lắm, học giỏi nữa, chẳng bù cho cô, cứ nhìn thấy sách vở là đau đầu.” Lý Cúc Hương vén lọn tóc bên tai: “Bao giờ thì mẹ cháu về thăm nhà nhỉ?”
“Mẹ cháu công việc bận lắm ạ, mẹ bảo khi nào xong việc sẽ về đón cháu.”
Thúy Thúy lên tiếng: “Mẹ ơi, con dẫn anh Truy Viễn lên lầu chơi nhé.”
“Ừ đi đi, nhớ tiếp đãi Tiểu Viễn Hầu cho chu đáo đấy.”
Thúy Thúy kéo tay Lý Truy Viễn, đến cửa cầu thang, con bé thành thục tháo giày ra thay đôi dép lê. Lý Truy Viễn thấy vậy cũng định cởi giày.
“Không, anh Truy Viễn ơi, anh đừng cởi, cứ thế đi lên đi.”
Lý Truy Viễn vẫn tháo giày ra, định đi chân đất lên, Thúy Thúy đành lấy đôi dép lê của mẹ đưa cho cậu đi.
Đi đôi dép lê rộng rếch, Lý Truy Viễn theo Thúy Thúy lên tầng hai, vào phòng của con bé. Trong phòng có đặt một chiếc tivi đen trắng.
Nhà Lưu mù đã mua tivi từ lâu nhưng không rêu rao, dân làng vốn lạnh nhạt với nhà bà, bà cũng lười mời người ta vào nhà xem tivi.
Thúy Thúy bật chiếc quạt cây lên nhưng cánh quạt không nhúc nhích: “Ơ, mất điện rồi ạ?”
Lý Truy Viễn: “Chưa cắm phích cắm bạn ơi.”
“Hế, đúng rồi nhỉ.” Thúy Thúy cúi người nhặt phích cắm, cắm vào ổ điện trên tường:
“O… o… o o… o o o ——”
Cánh quạt nặng nề chậm rãi quay, phát ra thứ âm thanh thiên thần có thể thổi bay cái nóng mùa hè.
“Anh Truy Viễn có xem tivi không?”
“Sao cũng được bạn ạ.”
Thúy Thúy bật tivi rồi vặn núm điều chỉnh. Vặn hết một vòng cũng chỉ có bấy nhiêu đài, mà một nửa trong số đó là nhiễu hạt “hoa tuyết”.
“Tĩnh ca ca, anh không sao chứ?”
“Dung nhi, ta không sao.”
“Hừ, Âu Dương Phong, ông đúng là…”
Mỗi kỳ nghỉ đông hay hè, tivi đều chiếu cố định bộ phim “Anh Hùng Xạ Điêu”.
Hai đứa ngồi bên giường xem tivi được một lúc, Lý Truy Viễn bỗng thấy buồn ngủ.
Từ đêm qua đến giờ cậu chưa được nghỉ ngơi, trước đó là do cảm xúc căng thẳng tột độ, giờ cảm xúc tan biến, sự mệt mỏi nhanh chóng ập đến.
Thúy Thúy lầm tưởng Lý Truy Viễn không muốn xem tivi, liền xuống giường bắt đầu giới thiệu cho cậu về đống búp bê, đồ chơi và tập tranh trong phòng mình.
Dù rất buồn ngủ nhưng Lý Truy Viễn vẫn nhìn con bé, cố gắng đáp lại mỗi khi nó giới thiệu.
Cô bé chìm đắm trong niềm vui được chia sẻ, nhưng rất nhanh con bé phát hiện ra không còn tiếng đáp lại. Ngoảnh đầu nhìn về phía giường, con bé thấy Lý Truy Viễn đã tựa vào thành giường ngủ thiếp đi.
Thúy Thúy lập tức im lặng, rón rén lại gần rồi cẩn thận giúp Lý Truy Viễn nằm ngay ngắn lại, gấp tấm chăn mỏng mùa hè đắp ngang bụng cho cậu.
Kế đó con bé đẩy chiếc quạt cây về phía này, nhấn cái nút nhỏ sau quạt để quạt bắt đầu quay đi quay lại.
Làm xong những việc này, con bé bê một cái ghế đến ngồi ngay cạnh giường, tay chống cằm nhìn Lý Truy Viễn đang ngủ say.
Nhìn một lúc con bé lại lén mỉm cười, vành tai ửng đỏ, ngoảnh mặt đi chỗ khác rồi một lúc sau lại không nhịn được mà tiếp tục nhìn cậu.
Thời gian cứ thế trôi đi trong vô thức.
“Thúy Thúy Hầu, Thúy Thúy Hầu ơi, dẫn Tiểu Viễn Hầu xuống ăn cơm nào.” Dưới lầu vang lên tiếng gọi của Lý Cúc Hương.
Thúy Thúy lập tức chạy xuống lầu, nói với mẹ: “Mẹ ơi, anh Truy Viễn ngủ mất rồi.”
“Thế con xuống ăn trước đi, mẹ để phần cơm cho em.”
“Không, con không đói đâu, con muốn đợi anh Truy Viễn dậy rồi ăn cùng anh ấy cơ.”
Ở làng này phần lớn phụ mẫu có chút tự giác đều sẽ ngăn cản con cái mình đi tìm bạn chơi vào sát giờ cơm, sợ bị mời vào bàn ăn thì mang tiếng là cố tình đi chiếm hời.
Tuy nhiên đôi khi cũng khó tránh khỏi, tự nhiên là được mời vào bàn.
Thúy Thúy chưa bao giờ được trải nghiệm điều đó, con bé sẵn lòng đợi Lý Truy Viễn dậy để cùng ăn cơm.
Lý Cúc Hương mỉm cười gật đầu, ra phòng khách mời mẹ mình và các bạn bài dùng bữa trưa.
Thúy Thúy lại chạy lên tầng hai, ngồi lại vị trí đó tiếp tục nhìn Lý Truy Viễn:
“Ơ?”
Thúy Thúy hơi thắc mắc ghé sát lại gần một chút, vì con bé thấy chân mày của anh Truy Viễn nhíu lại.
“Anh ấy đang mơ à?”
…
“Bà ơi, cháu dẫn anh Truy Viễn đến nhà chơi này.”
“Ừ, chơi đi. Ăn!”
Lý Truy Viễn nhìn Thúy Thúy đang đứng trước mặt mình, rồi lại nhìn Lưu mù đang đánh bài với ba người bạn ở phòng khách. Cậu hiểu rõ mình đang nằm mơ.
Bởi vì khung cảnh xung quanh cậu thực sự quá đỗi xa rời thực tế. Tầm mắt toàn là màu đen trắng, mọi vật và mọi người dường như đều được vẽ bằng bút than.
Dù có thể hiện ra hình dạng người và vật tương ứng, nhưng chúng hơi mờ ảo và có chút vặn vẹo. Trong những đường nét thô ráp toát lên một vẻ tùy ý quỷ dị.
Lý Truy Viễn cúi đầu nhìn lại chính mình, cậu phát hiện mình vẫn bình thường, thứ không bình thường là những người và vật khác trong giấc mơ.
Điều này khiến cậu nhớ đến những bản vẽ mô phỏng trong phòng làm việc của mẹ mình, cũng là nền trắng vết than như thế này.
Cậu mơ thấy cảnh mình vừa cùng Thúy Thúy đến nhà chào hỏi Lưu mù. Tiếp đó, Thúy Thúy đứng trước mặt nắm tay cậu dẫn vào trong.
Bàn tay vốn dĩ mịn màng của cô bé, giờ nắm trong tay lại thấy thô ráp và hơi đau, giống như giấy nhám.
Cậu không tự chủ được mà vùng ra, dừng bước lại. Thúy Thúy vẫn một mình tiếp tục đi vào trong, nhưng cánh tay con bé vẫn luôn giữ tư thế như đang dắt người.
Còn ở sau lưng cậu, bốn người Lưu mù đang đánh bài ở phòng khách bỗng nhiên im bạt.
Lý Truy Viễn quay đầu nhìn lại, thấy bốn người này đều đứng khựng lại, bất động như tượng.
Ngay cả vòng khói thuốc nhả ra từ miệng Lưu mù cũng dừng lại tại chỗ, không tiếp tục tan ra.
Sự tĩnh lặng này cũng cho Lý Truy Viễn cơ hội để quan sát. Vết than trên người ba người bạn bài rất dịu nhẹ, khá nhạt, còn hình ảnh Lưu mù thì đường nét rất thô, sâu và cứng.
Đứng tại chỗ một hồi lâu, Lý Truy Viễn thấy rất thắc mắc. Trước đây mỗi lần nằm mơ, hễ nhận ra là mơ thì cậu sẽ tỉnh dậy ngay, nhưng lần này cậu vẫn kẹt trong giấc mơ.
Cuối cùng, Lý Truy Viễn vẫn chọn đi vào trong. Cậu thấy Lý Cúc Hương đang ngồi nhặt rau. Những đường nét trên người cô cũng rất cứng, vô cùng lạc lõng so với những nét vẽ nhạt nhòa xung quanh.
Lý Truy Viễn đi đến trước mặt Lý Cúc Hương. Những vết than sâu đậm phác họa nên những chi tiết trên nét mặt cô. Cô đang cười, ánh mắt tràn đầy sự hồi tưởng.
“Cúc Hương A di, Cúc Hương A di ơi?”
Lý Truy Viễn thử gọi vài tiếng, còn huơ tay trước mặt cô, nhưng Lý Cúc Hương vẫn bất động, ngay cả mắt cũng không chớp lấy một cái.
Rời khỏi đó, Lý Truy Viễn đi đến cửa cầu thang. Trước khi bước lên, cậu tháo đôi giày của mình ra, đi chân đất lên trên.
Đến căn phòng ngủ đó, chiếc quạt cây dừng lại tại chỗ không quay nữa, Quách Tĩnh và Hoàng Dung trong tivi chỉ còn lại những nét phác thảo mờ mịt.
Thúy Thúy đang chỉ tay vào một con búp bê, há miệng như đang kể chuyện, cũng bất động.
Những đường nét trên người Thúy Thúy còn rõ ràng và cứng hơn cả trên người bà và mẹ con bé, gần như trở thành những vệt đen cứng nhắc.
Dường như mọi người và mọi vật khác đều là được vẽ lên, còn con bé thì là được khắc lên vậy.
Lý Truy Viễn nhìn về phía giường, trên giường chẳng có cậu, trống trơn.
Thứ tĩnh lặng không chỉ là vật chất mà còn là âm thanh. Lý Truy Viễn chợt nhận ra tai mình đã rất lâu không nghe thấy bất kỳ tiếng động nào, cả thế giới đều yên tĩnh đến đáng sợ.
Cậu bắt đầu thấy hoảng hốt, vì cậu không biết mình còn phải ở trong giấc mơ này bao lâu nữa. là web chính chủ của bản dịch này
Cậu mở cánh cửa phòng ngủ dẫn ra ban công. Ban công tầng hai của tòa nhà này thông nhau, bên trên lát gạch men đỏ trắng.
Phóng tầm mắt ra xa, trừ những nét vẽ nguệch ngoạc phác họa cánh đồng lúa gần nhà ra, phần lớn khu vực trong tầm mắt đều là một khoảng trắng xóa đờ đẫn.
Ngẩng đầu lên, vị trí vốn là mặt trời chỉ còn lại một quầng sáng trắng phát quang, trông rất giống một cục tẩy, có thể rơi xuống xóa sạch mọi thứ ở đây bất cứ lúc nào.
“Này, cho hỏi đây có phải nhà Lưu Ma Ma không?”
Dưới sân vọng lên một tiếng gọi. Trong lúc này, âm thanh đó nghe thật lạc lõng, thậm chí là chói tai.
Lý Truy Viễn đứng trên tầng hai nhìn xuống, thấy một người đàn ông khoảng năm mươi tuổi, trên lưng còn cõng một bà lão.
Bà lão rất gầy, phần lộ ra ngoài tay áo chỉ còn lại chút xương bọc trong lớp da khô héo. Tóc bà rất dài và rối bời, xõa tung trên lưng.
“Này, cho hỏi đây có phải nhà Lưu Ma Ma không?”
Người đàn ông hỏi lại lần nữa, vẻ mặt có chút lo lắng cõng bà mẹ già xoay một vòng tại chỗ.
Lý Truy Viễn không biết mình có nên trả lời hay không.
Đúng lúc này, bà lão vốn đang gục trên lưng người đàn ông bỗng nhiên ngẩng đầu lên. Khuôn mặt bà đối diện trực diện với Lý Truy Viễn đang đứng trên tầng hai.
Rõ ràng đều là những hình ảnh được phác họa bằng bút than, nhưng đôi mắt của bà lão này lại hiện ra một sự tinh xảo vượt xa giới hạn chịu tải của phong cách vẽ tranh này.
Đó là sự phẫn nộ, là âm hiểm, là oán độc!
Giây tiếp theo, Lý Truy Viễn thấy mọi thứ xung quanh mình bắt đầu xoay chuyển và vặn vẹo, giống như một vòng xoáy xuất hiện từ hư không, đang xé nát và cuốn trôi mọi thứ xung quanh, bao gồm cả chính cậu.
…
“Anh Truy Viễn ơi?”
Lý Truy Viễn mở mắt ra, thấy gương mặt lo lắng của Thúy Thúy.
“Anh Truy Viễn, anh gặp ác mộng ạ?”
“Ừ.” Lý Truy Viễn ngồi dậy đáp một tiếng: “Anh ngủ bao lâu rồi?”
“Không lâu đâu ạ, chắc khoảng hai tiếng. Anh Truy Viễn ơi, chúng mình xuống ăn cơm đi.”
“Thôi, anh về nhà ăn đây.”
“Chao ôi, anh đừng khách khí mà anh Truy Viễn.” Thúy Thúy kéo tay cậu dẫn xuống lầu: “Mẹ ơi, anh Truy Viễn dậy rồi.”
Lúc này, Lưu mù và ba người bạn bài đã dùng xong bữa trưa và bắt đầu ván bài buổi chiều.
Lý Cúc Hương mỉm cười mở chiếc lồng bàn màu đỏ trên bàn ăn ra, bên trong là phần cơm nước đã để dành sẵn: “Tiểu Viễn Hầu, lại ăn cơm đi cháu, cô hâm lại canh cho cháu nhé.”
“Cô ơi, cháu về nhà ăn ạ.”
“Ngoan, nghe lời cô, đừng khách sáo với cô. Ngày xưa cô với mẹ cháu cũng chẳng bao giờ khách sáo với nhau cả. Hơn nữa, Thúy Thúy là cố tình đợi cháu dậy để cùng ăn đấy.”
“Cháu cảm ơn cô ạ.”
“Anh Truy Viễn ngồi đây này.” Thúy Thúy ngồi xuống trước, Lý Truy Viễn đi về phía kệ bếp bên kia định giúp lấy bát đũa.
“Đi đi đi, cháu cứ ngồi đấy đi để cô lấy cho.”
“Dạ vâng ạ.”
Lý Truy Viễn quay lại ngồi xuống. Rất nhanh, Lý Cúc Hương đã đặt đôi đũa và bát cơm đầy trước mặt cậu.
Dù trên bàn đều là những đĩa thức ăn nhỏ nhưng cũng đã quá đủ cho hai đứa trẻ. Hai món mặn hai món rau, đặc biệt là bát khoai tây kho thịt, khoai tây chỉ có hai miếng điểm xuyết còn lại toàn là thịt, rõ ràng là cô đã cố tình chừa phần ngon lại.Chương truyện này được copy từ
Lý Cúc Hương bưng lại một bát canh cá nấu nhừ, bên trên nhỏ mấy giọt dầu mè và thêm chút giấm, mùi vị thơm ngon đầy hấp dẫn.
Ngoài ra, cô còn mở một hộp trái cây thập cẩm, rót ra bát cho mỗi đứa một phần.
Có thể nói, ở cái làng này, bữa ăn thế này thực sự thuộc hạng vô cùng thịnh soạn.
“Tiểu Viễn Hầu, tối nay cứ ở lại đây ăn tiếp nhé, cô sẽ làm thêm món ngon cho cháu.” Lý Cúc Hương mỉm cười nói.
Lý Truy Viễn đặt đũa xuống, nói với Lý Cúc Hương: “Đã nhiều lắm rồi ạ, cháu làm phiền cô quá.”
“Hì hì, đừng buông đũa, ăn đi cháu.”
Lý Cúc Hương xoa đầu Lý Truy Viễn, trong lòng thầm ngưỡng mộ không biết Lý Lan dạy con kiểu gì mà đứa trẻ lại hiểu chuyện và lễ phép đến thế, một đứa trẻ như vậy đi đâu cũng dễ được người ta yêu quý.
“Tiểu Viễn Hầu này, mẹ cháu ở nhà có hay nấu cơm cho cháu ăn không?”
Lý Truy Viễn lắc đầu, đặt đôi đũa ngang miệng bát, trả lời: “Mẹ cháu không biết nấu ạ.”
“Chắc là do mẹ cháu công việc bận rộn quá đúng không?”
“Vâng ạ, mẹ rất bận.”
“Thế bên nhà nội cháu thì sao, Gia gia Nãi nãi bên đó không nấu cơm cho cháu à?”
“Cháu không hay sang bên đó ạ.”
“Thế bình thường cháu ăn cơm ở đâu?”
“Ở nhà hàng xóm ạ.”
Thông thường sau khi tan học, trong khu tập thể của trường, các ông bà giáo viên đã nghỉ hưu hoặc tan tiết sẽ chủ động dắt cậu về nhà họ ăn cơm.
“Ôi, đứa trẻ tội nghiệp.” Lý Cúc Hương không hỏi thêm nữa. Dặn hai đứa tự ăn xong, cô cầm phích nước ra châm thêm nước cho bàn bài.
Đúng lúc này, bên ngoài vang lên tiếng gọi:
“Này, cho hỏi đây có phải nhà Lưu Ma Ma không?”
Nghe thấy âm thanh này, đôi đũa Lý Truy Viễn vừa cầm lên bỗng tuột khỏi tay, rơi xuống đất.
“Cạch!”
…
Trong phòng khách, Lưu mù ném tập bài trên tay xuống bàn, vỗ tay một cái: “Giải tán.”
Ba người bạn bài gật đầu, đứng dậy kết thúc ván bài, rõ ràng họ đã quá quen với tình huống này.
Tuy nhiên trước khi bước ra khỏi phòng khách, họ lần lượt đi tới cái chậu đặt ở góc phòng để rửa tay.
Trong chậu ngâm lá chuối tây. Khi rửa tay, họ lấy lá chà xát vào tay một cái rồi vẩy vẩy nước, cuối cùng lau khô bằng chiếc khăn trên giá.
Làm vậy là để trừ tà khí, đó là sự sắp xếp của chính Lưu mù. Bà không những chẳng còn bận tâm đến thái độ của dân làng đối với nhà mình mà trái lại còn cố tình đặt ra những nghi lễ như vậy để tăng thêm vẻ huyền bí.
Lý Truy Viễn và Thúy Thúy bước ra phòng khách. Lưu mù cũng đang đứng dậy khỏi ghế, hỏi: “Ăn cơm chưa các con?”
“Đang ăn ạ, chúng con ra xem chút thôi.” Thúy Thúy nói.
“Có gì mà xem, thôi, Thúy Thúy Hầu, giúp bà thu bài đi.”
“Dạ, Nãi nãi.”
Dặn dò xong, Lưu mù tự mình đi vào bên trong. Ở đó có một căn phòng khuất nắng, là phòng làm việc của bà.
“Anh đi chậm thôi, ở đây có cái ngưỡng cửa.” Giọng Lý Cúc Hương vang lên từ bên ngoài, cô vừa nghe thấy tiếng gọi đã ra đón khách.
“Được rồi, không sao, không sao đâu.”
Lý Truy Viễn nhìn ra cửa phòng khách, thấy Lý Cúc Hương đang dìu một người đàn ông lớn tuổi bước qua ngưỡng cửa đi vào.
Người đàn ông đó người đổ về phía trước, lưng còng rạp xuống, hai tay chắp sau thắt lưng, là một người gù.
Trông cũng giống như… đang cõng một người không tồn tại.
“Đây là đứa trẻ nhà cô à?” Người đàn ông nhìn hai đứa trẻ mỉm cười hỏi.
“Đứa con gái là nhà em, còn đứa con trai là nhà chị em ạ. Mẹ em đang đợi anh đấy, cứ đi vào cửa trước rồi rẽ phải đi đến cuối đường.”
“Được, được, tôi đi ngay đây, không thể để Lưu Ma Ma phải đợi được.” Người đàn ông tiếp tục đi vào trong.
Lý Truy Viễn đứng ở phía sau, ánh mắt cứ dán chặt vào cái lưng gù của đối phương.
Người đàn ông bước vào cửa trong của phòng khách, rẽ phải. Đáng ra ông ta phải tiếp tục đi vào nhưng bỗng nhiên lại đứng khựng người lại.
Vì ông ta là một người gù đổ về phía trước, nên lúc này vị trí từ vai trở lên của ông ta đã bị bức tường che khuất, chỉ còn cái lưng gù là còn trong tầm mắt.
Giây tiếp theo,
Đôi bàn tay đang chắp ở vị trí thắt lưng sau lưng ông ta bỗng không tự chủ được mà nhấc cao lên. Cánh tay trái đè xuống, cánh tay phải hếch lên, cái mông lùi lùi vào trong, bả vai vặn ra ngoài, một bên mặt đã áp sát vào bức tường.
Lý Truy Viễn nhìn cái lưng trống không của ông ta. Khoảnh khắc này, cậu cảm thấy như thể ở đó có một người, đang nhổm người dậy trên cái lưng đó, “nhìn” về phía mình.
Lý Cúc Hương hỏi: “Anh làm sao thế?”
Trong giọng nói vốn thô ráp của người đàn ông bỗng nhiên xen lẫn chút khàn khàn lanh lảnh, nói:Đừng đọc ở web lậu, hãy ủng hộ
“Thằng bé này…”
Lý Truy Viễn căng thẳng siết chặt đôi nắm tay. Cậu bỗng nhớ lại có lần mẹ dắt mình xem một bức bích họa lớn trên tường, cậu hỏi mẹ tại sao ở đây có một khoảng trống lớn không vẽ gì cả, mẹ trả lời rằng:
Tiểu Viễn à, đây gọi là “lưu bạch”, để con tự mình tưởng tượng đấy, như vậy hiệu quả trái lại sẽ tốt hơn.
Lúc đó cậu còn chưa hiểu lắm, giờ đây, dường như đã hiểu đôi chút rồi.
“Anh đi mau đi, mẹ tôi đang đợi anh ở trong kia kìa.”
Lý Cúc Hương lại giục giã. Cô thực sự không hiểu tại sao người này lại đứng khựng ở đây, nhưng cô cũng chẳng thấy tư thế của ông ta có gì kỳ quái, dù sao người ta cũng là người gù, dù ông ta có đứng im thì trông cũng đã kỳ lạ rồi.
“Ừ.” Người đàn ông đáp một tiếng, nhưng rồi bỗng nhiên ngồi xổm xuống, đồng thời cơ thể hơi ngả về phía sau, hai tay chống xuống đất để giữ lấy người.
“Ơ, anh bị làm sao thế?”
Lý Cúc Hương định vươn tay ra đỡ, nhưng đừng nhìn người đàn ông này gầy gò ốm yếu, cái lực lúc ông ta hạ người xuống thực sự rất nặng, cô hoàn toàn không kéo lên nổi. Nhưng cũng may, đối phương dựa vào hai tay chống đỡ nên vẫn giữ được thăng bằng, chỉ là ngồi xổm ngả ra sau chứ không bị ngã nhào.
Lý Truy Viễn thấy cảnh đó, cơ thể loạng choạng lùi lại hai bước.
Tư thế này, rất giống hành động đặt người trên lưng xuống đất.
Ánh nắng bên ngoài chiếu vào phòng khách. Lớp gạch lát sàn kiểu cũ không phản chiếu được bao nhiêu ánh sáng, cùng lắm chỉ hiện ra chút thay đổi về độ sáng tối.
Ánh mắt Lý Truy Viễn nhìn xuống dưới. Tại vị trí cửa trong, dường như có hai khoảng diện tích bằng bàn chân tối sầm lại một chút.
Rất mờ nhạt, mờ nhạt đến mức Lý Truy Viễn thấy mình như bị hoa mắt, hay là mình đã nghĩ quá nhiều.
Nhưng ngay sau đó, lại có thêm hai khoảng diện tích mới tối sầm lại rồi phục hồi, nhưng khoảng cách với cậu lại ngày càng gần hơn.
Cuối cùng, hai vệt màu tối sầm đó xuất hiện ngay trên viên gạch trước mặt cậu và không hề tan đi.
Một làn gió lạnh thổi tạt qua, Lý Truy Viễn thấy mặt, ngực và tay chân bắt đầu lạnh toát. Vấn đề là, cậu đang đứng quay mặt vào trong nhà, trong nhà này lấy đâu ra gió thổi tới chứ?
Nửa sau của hai vệt màu tối sầm đó biến mất, nửa trước đậm thêm, cái lạnh lẽo trước mặt cậu cũng tăng thêm.
Lý Truy Viễn nuốt nước miếng. Ánh mắt cậu bắt đầu lấp lửng và né tránh, một loại bản năng khiến cậu không dám nhìn thẳng, như thể trước mặt cậu đang có một bà lão gầy gò khô héo, người đổ về phía trước, khuôn mặt bà đang áp sát vào cậu.
Lý Truy Viễn cắn chặt môi.
Bất chợt, cậu thấy cái lạnh bên má trái càng tăng thêm, giống như có một cục đá áp vào vậy, còn da đầu cậu cũng bắt đầu tê dại, cảm giác như có người đang từng nhịp, từng nhịp vuốt ve tóc mình.
Người đàn ông gù đang ngồi xổm dưới đất lúc này quay đầu nhìn về phía này, tiếp tục câu nói còn dang dở lúc nãy:
“Đứa nhỏ này, trông mới ngoan làm sao.”
(Hết chương)