Trọng Huyền Thắng, Khương Vọng và Mười Bốn phối hợp ăn ý, đột nhiên tạo thành thế công chí mạng.
Nhưng đối mặt cục diện này, trong mắt Kỷ Thừa chẳng hề gợn sóng.
Biết bao anh hùng hào kiệt hiện tại khiến người ta cảm thán. Nhưng lão tướng ngày xưa, cũng từng là thiếu niên!
Cái thời hăng hái, dũng mãnh vô song ấy, ông ta cũng từng trải qua.
Lúc này ba vị người trẻ tuổi, đều là cường giả Đằng Long cảnh. Hơn nữa tên mập Trọng Huyền gia này, một thân chiến lực, tuyệt đối không thua kém Nội Phủ cảnh bình thường.
Mà ông ta, Kỷ Thừa, đã dần dần già đi, vô số vết thương cũ trên người, lại hao phí tâm lực khổng lồ trên chiến trường, gần như một mình chỉ huy Dương quân chống lại Thu Sát quân, một đội quân mạnh nhất thiên hạ, tâm thần đều mệt mỏi.
Từ đó về sau lại một mình chống chọi, bất chấp quân trận chỉnh tề của Thu Sát quân, để phá tan công kích của ba thiếu niên anh kiệt này, đã cảm thấy lực bất tòng tâm.
Nhưng ông ta dù sao cũng là Kỷ Thừa.
Dù sao cũng là cường giả binh đạo Ngoại Lâu cảnh!
Cái gọi là Ngoại Lâu cảnh, đỉnh cao của trung tam phẩm.
Chữ “Ngoài” trong Ngoại Lâu, không chỉ đơn thuần là tương đối với nội phủ, ở “bên ngoài cơ thể”, mà còn ở “ngoài thiên giới”!
Thế giới tu hành có câu nói “Tứ thánh linh trung lên cao lầu”.
Chỉ ra rằng cường giả Ngoại Lâu cảnh, trong tinh không vô tận, thông qua liên hệ huyền diệu, dẫn dắt lực lượng đến Tứ Linh Tinh Vực, ngưng tụ thành tinh lâu.
Bốn tòa lầu này, gọi là Đông Phương Thanh Long lâu, Tây Phương Bạch Hổ lâu, Nam Phương Chu Tước lâu, Bắc Phương Huyền Vũ lâu.
Tựa như Nội Phủ cảnh còn được gọi là Ngũ Phủ cảnh, Ngoại Lâu cảnh cũng có biệt xưng là Tứ Lâu cảnh.
Bốn tòa tinh lâu thánh này, diệu dụng vô cùng, vài ba câu khó mà kể xiết.
Chỉ riêng việc Ngoại Lâu cảnh phóng ra Tứ Linh Tinh Vực, các lưu phái đã có những lý giải khác nhau, hướng về “Đạo” của riêng mình.
Lấy Đạo môn làm ví dụ, tuy có ba mạch, nhưng ba mạch đồng nguyên.
Đều lấy uy nghiêm của Thanh Long, sự bốc cháy của Chu Tước, sự khoan dung của Huyền Vũ, sự tàn sát của Bạch Hổ.
Lấy bốn chữ “Uy, Thành, Nhân, Sát”.
Các phái khác như Nho gia lấy “Tín, Đức, Nhân, Sát”; Pháp gia lấy “Uy, Liệt, Chính, Hình”; Thích gia lấy “Uy, Đức, Dung, Diệt”; Mặc gia lấy “Uy, Khiết, Dung, Vũ”...