Năm Vĩnh Hòa thứ năm, đang độ tháng bảy, chớm sang thu.
Lúc này bờ bắc Hoài Thủy hơi nóng vẫn chưa tan hết, lúa má ngoài đồng cũng chưa kịp chín hẳn, nhưng phóng tầm mắt ra, khắp cánh đồng mênh mông, đâu đâu cũng thấy những gốc rạ cắt vội. Có chỗ vừa mới cắt xong, nhựa xanh còn rỉ ra từ vết chém, nhưng chúng chú định sẽ không đợi được tới lúc sương sớm hôm sau phủ đầy đồng ruộng nữa, bởi ngay trong ngày sẽ bị nắng gắt và gió nóng hong khô, rồi cũng như đám gốc rạ chung quanh, héo vàng dần, không còn chút sinh khí nào.
Rõ ràng có người trái mùa trái vụ, gặt lúa non trước kỳ, mà đây lại là chuyện phổ biến khắp nơi.
Nhưng ngẫm kỹ lại, cảnh tượng ấy cũng chẳng khó hiểu gì. Bởi lẽ đương thời chính là ba mươi năm sau ngày y quan Nam độ, đại Tấn yên phận ở phương nam, Yết Triệu lập nghiệp ở phương bắc, gọi là thời Nam Bắc đối lập. Vào cái thế cục ấy, đất Hoài Bắc nằm giữa Nam Bắc, binh lửa liên miên, đắp đê, bỏ hoang, chạy loạn, tàn sát cả thành, chuyện thường như cơm bữa. Để tránh họa lánh loạn, gặt lúa non trước kỳ thì có nghĩa lý gì đâu?
Huống hồ, đến năm Vĩnh Hòa thứ năm này, lý do lại càng chính đáng hơn trước — Thạch Hổ chết rồi!
Đúng vậy, tên bạo chúa khét tiếng của Yết Triệu, đã chết vào tháng tư năm nay. Chết rồi, tất nhiên chẳng đến mức thiên hạ hoan hỉ, dù sao Thạch Triệu cũng chiếm hai phần ba thiên hạ, đất Hoài Bắc này có ai dám khinh suất nghi ngờ nền thống trị của đại Triệu đâu?
Thế là, trong hai tháng tiếp sau, phương bắc dậy sóng cuộn trào, người Yết, người Tiên Ti, người Đê, người Khương, người Hán, Thạch Tuân, Thạch Bân, Thạch Giám, Thạch Mẫn, Trương Sài, Bồ Hồng, Diêu Dặc Trọng, thêm cả một đám họ Mộ Dung, tên tuổi đổi qua đổi lại, tộc người lộn xộn tứ tung, kẻ đến người đi, kẻ này chết người kia vong... Có lẽ sĩ tộc bản địa Hà Bắc còn dò được đôi phần mạch lạc, chứ với sĩ tộc vùng Hoài thì hoàn toàn mù tịt.
Cũng chính lúc ấy, nơi chính thống thiên hạ, đại đô đốc quân sự năm châu Thanh, Dương, Từ, Duyện, Dự của triều đình đại Tấn là Chử Bùi chính thức thống lĩnh vương sư Bắc phạt, đích thân đến Bành Thành đất Từ Châu, trấn giữ Tứ Khẩu, lập tức chấn động cả thiên hạ!
Đất Hoài Bắc đứng mũi chịu sào càng thêm sục sôi, sĩ tộc vùng Hoài vốn đã chịu hết nổi bạo chính của Thạch Triệu đua nhau dắt díu cả nhà đi theo, còn dân chúng bản địa vốn chỉ biết nương nhờ các sĩ tộc ấy thì đành gặt lúa non đi theo sau, giữa cảnh hỗn loạn, mỗi ngày dân chúng vùng Hoài đổ về Bành Thành đông tới hàng nghìn người.
Lưu A Thặng, kẻ chạy trốn từ quận Tiều tới, chính là một trong số đó.
Lưu A Thặng năm nay bao nhiêu tuổi cũng chẳng rõ, có thể mười ba mười bốn mà trông già trước tuổi, cũng có thể mười sáu mười bảy mà phát triển chậm, dù sao cũng dáng vẻ một thiếu niên nửa lớn nửa nhỏ, ấy vậy mà đã sớm quấn khăn trên đầu, giả làm người lớn; quê quán ở đâu cũng chẳng rõ, chỉ có thể nói là người quận Tiều, vì dù sao mọi người cũng vớt hắn lên từ một cái giếng đất ở quận Tiều, rồi cứ thế đi từ quận Tiều tới đây, hắn cũng tự xưng là người quận Tiều, nhưng ai nấy đều nhận ra, giọng nói gã này nghe cứ là lạ.
Thậm chí, cái thân xác này có phải tên Lưu A Thặng hay không cũng chẳng chắc, bởi gã chỉ biết kiếp trước mình tên Lưu Thặng, lúc vừa được vớt lên mọi người đều gọi gã bằng âm A Thặng, gã bèn đương nhiên cho rằng mình vẫn tên Lưu Thặng.
Thực ra thì sao? Thực ra chẳng ai biết, có khi còn chẳng mang họ Lưu ấy chứ!
Tóm lại, nghĩ kỹ thì không dám nghĩ kỹ, hỏi thì cũng không dám hỏi, mà chuyện này về sau cũng chẳng còn quan trọng nữa, dù sao mọi người đang chạy loạn, từ quận Tiều tới Bành Thành, mấy ngày liền đội nắng gắt đi gần ba trăm dặm, chẳng những người mệt rã rời, mà đoàn người đi cùng cũng trở nên hỗn loạn, đến khi tới chân thành Bành Thành, lãnh được lương thực từ tay đại đô đốc họ Chử xong, trong hàng vạn dân tị nạn, kẻ xuyên việt lại càng thất lạc hẳn khỏi đoàn cũ...
Đúng vậy, Lưu A Thặng đương nhiên là một kẻ xuyên việt.
Quá trình xuyên việt chẳng có gì đáng kể.
Một nhân viên văn phòng thành thị ba mươi ba tuổi sắp bị vắt kiệt sức bởi lối làm việc "chín chín sáu", cuối cùng trước ngằn ranh sinh tử ba mươi lăm tuổi cũng leo lên được chức trưởng phòng, rồi hắn lấy hết can đảm chịu áp lực giục cưới giục mua nhà, về quê cũ trên đồng bằng Hoài Hải trong kỳ nghỉ lễ Một tháng Năm, và vào một buổi chiều mưa lất phất vẫn không ngăn nổi hơi nóng oi bức, cùng người thân bạn bè chui vào một di tích lịch sử nổi tiếng trong vùng — một con đường hầm vận binh của Tào Tháo, rất có thể do phiên trấn cuối đời Đường xây, văn nhân đời Tống xác nhận, rồi được tu sửa lại bằng xi măng thời hiện đại.
Kết quả chẳng bao lâu, hắn bắt đầu thấy chóng mặt hoa mắt trong đường hầm chật hẹp, ẩm thấp và dằng dặc, đành phải chui vào một nhánh rẽ có biển "du khách dừng bước".
Nhánh rẽ chẳng có gì lạ, đầu bên kia cũng có vẻ bình thường, chỉ là một công trường nhỏ đang thi công dưới mưa, công nhân đội mũ bảo hộ, mang ủng mưa làm việc, hình như đang đào cái gì đó, lại hình như đang xây cái gì đó? Mà phản ứng của đám công nhân ấy cũng rất bình thường, thấy Lưu Thặng dáng vẻ rõ ràng không ổn, họ liền vứt hết dụng cụ trong tay, chạy tới đỡ lấy, dìu vị du khách này lên một bệ đá trống trải bốn bề để thở dốc, nghỉ ngơi.
Đến lúc ấy, Lưu Thặng mới nhận ra, đám người này đang xây "di tích", họ có vẻ như đào một hố lớn trước, rồi xây bệ đá chạm khắc chung quanh, còn chỗ hắn đang nghỉ, chính là bệ đá cạnh hố lớn ấy.
Về việc này, vị du khách rất thông cảm, dù sao đây cũng là khu di tích, lúc ấy chỉ nghĩ đám công nhân này cũng vất vả như mình, trời mưa còn phải làm việc, đủ thấy dân đi làm ở đâu cũng khổ.
Cứ thế, nghỉ một lát, thở đã đều, đầu óc cũng tỉnh táo, Lưu Thặng không định dầm mưa thêm nữa, nói lời cảm ơn mọi người chung quanh xong liền đứng thẳng dậy, nhưng cũng ngay lúc ấy, hắn trượt chân trên bệ đá đẫm nước mưa, ngã ngửa trước ánh mắt chứng kiến của đám công nhân, rơi tùm xuống hố lớn đã đọng khá nhiều nước.
Mãi đến lúc này, hắn mới để ý, trên bệ đá khắc rõ ràng một chữ Tỉnh gì đó.
Thì ra đám người này không phải đào hố, mà là đào giếng!
Đây là ý nghĩ cuối cùng trước khi xuyên việt, bởi ngay khoảnh khắc sau, hắn đã bị một đám lưu dân lóng ngóng vớt lên từ một cái giếng đất, và đổi sang một thân xác khác.
Chuyện tiếp theo lại càng đơn giản, bởi lúc này vùng Hoài Tây đã trở về đúng nghĩa đen là đất đỏ ngàn dặm, lúa má ngoài đồng bị gặt non hết cả, tin đồn binh lửa không ngớt, kẻ xuyên việt khoác trên người bộ áo ngắn quần vá đầu quấn khăn rách chân đi giày cỏ, không còn thời gian suy nghĩ, đành phải theo đoàn người chung quanh mà đi, dựa vào việc giúp người vác hành lý, nhặt lúa sót ngoài đồng, tìm quả chua ven đường, tất nhiên chủ yếu vẫn là dựa vào cái thực tế rằng lúa non không ăn thì phí, mọi người sẵn lòng bố thí, mà đi được tới Bành Thành đất Từ Châu.
May mà vị đại đô đốc đại Tấn mà mọi người đang bàn tán là có thật, quả thực đã thu nhận lưu dân, mà còn thực sự phát lương thực.
Tuy là gạo cũ, tuy trộn khá nhiều cát sỏi, tuy tám thăng gạo có một thăng đổi thành bao tải, nhưng chỉ có thể nói là không thành vấn đề lớn, bởi với kẻ xuyên việt mà nói đây chính là vật tư cứu mạng thực thụ.
Lấy củi nhặt được làm tiền thuê mượn cái nồi gốm, nấu cơm, nuốt xuống bụng, buộc túi kê vào trong áo, ôm gốc cây ngủ một giấc, đợi đến sáng hôm sau mặt trời lên, hắn mới có thể nghe ngóng chung quanh, ngẫm nghĩ đôi chút... nhà ai mất con dọc đường, ai lạc mất cha mẹ, ai đánh nhau với ai, ai gặp phải hổ sói dọc đường, rồi dần dà, chính là những lời như đại Tấn, Thạch Hổ, đại đô đốc, Mộ Dung, Vĩnh Hòa năm thứ năm, kẻ xuyên việt mới chợt tỉnh ngộ, hóa ra mình đã đến Đông Tấn!
Chẳng trách được, ai bảo niên hiệu Vĩnh Hòa này quen thuộc đến thế, quen đến mức như khắc sâu vào xương cốt.
Cối Kê Lan Đình, cúi ngẩng một đời, Tần Hoài hà Ô Y hạng, chim én trước sảnh đường họ Vương họ Tạ, Mộ Dung lập quốc phục quốc... à, còn có Hoàn Ôn Bắc phạt, cây còn như thế, huống chi là người... còn có Vương Mãnh bắt chấy, Bồ Kiên vung roi chặn sông, Tạ An bẻ gãy guốc gỗ... nhưng sao lại chưa từng nghe qua vị đại đô đốc họ Chử này, đã cứu mạng mình mà thanh thế lại lớn đến vậy?
Đây là đại đô đốc quân sự năm châu đấy! Binh mã xem ra cũng không ít, nghĩ thế nào cũng chẳng phải hư danh chứ?
Thực ra chẳng mất bao lâu, kẻ xuyên việt đã hiểu ra, còn có thể thế nào nữa? Ắt hẳn vị đại đô đốc này Bắc phạt đại bại, trở thành một trong vô số lần "vương sư bại trận" mà sử sách Đông Tấn ghi lại thôi.
Nói ra cũng lạ, kẻ xuyên việt sắp thành ăn mày này chẳng lo bữa sau mượn nồi ở đâu, lại nghĩ đến chuyện quốc gia đại sự này quả có ích lợi — lẽ đơn giản thôi, đại đô đốc họ Chử Bắc phạt ắt bại, vậy mình phải mau rời khỏi Bành Thành, tốt nhất học theo đám người vượt Tứ Thủy kia, tiếp tục chạy về nam!
Chạy tới Kiến Khang, cách một ngàn sáu trăm năm về sau lập nghiệp ngay tại kinh đô tinh thần của người Hoài Tây, chẳng phải trước trận Phì Thủy đều được yên ổn hay sao?
Nói vậy, trận Phì Thủy còn bao nhiêu năm nữa?
Nghĩ vậy, chạy đi nhìn thử, quả nhiên không nhìn không biết, nhìn rồi giật mình, từ đằng xa Lưu A Thặng đã để ý thấy, quả thực có một đoàn người đang cố vượt Tứ Thủy để tiếp tục đi, mà rõ ràng còn có kỷ luật hơn hẳn, thậm chí còn có gà chó bò dê, xe cộ rương hòm, thậm chí còn treo cờ hiệu đơn giản chắc là do quan quân đại Tấn phát cho, còn lưu dân ở lại bờ nam thì tỏ ra lộn xộn không ra thể thống gì, hầu như ai nấy chỉ để tâm vào bữa ăn kế tiếp.
Không được, phải đi ngay!
Nghĩ thông suốt rồi, Lưu A Thặng không chút do dự, vác gói kê cũ chẳng rõ còn được mấy thăng lên vai, liền hướng bờ Tứ Thủy mà đi.
Nói thêm, Bành Thành nằm ngay chỗ giao nhau của Biện Thủy và Tứ Thủy, thành trì ở phía tây nam ngã ba sông, dân chạy loạn phần nhiều tụ tập ở phía tây bắc, số ít từ Thanh Châu tới thì ở phía đông. Muốn xuống nam, vượt Biện Thủy tới dưới chân thành Bành Thành là việc không thể, bởi đại đô đốc đang ở trong thành, Biện Thủy rõ ràng đang giới nghiêm, cấm ngặt qua lại, cho nên con đường tốt nhất là trực tiếp vượt qua Tứ Thủy tới bờ đối diện, rồi men theo Tứ Thủy mà xuôi về nam.
Thực ra, trên Tứ Thủy vì để thông suốt cho quân đội qua lại quả thực có rất nhiều cầu phao, nhưng với một kẻ xuyên việt chỉ có vài thăng gạo kê, không thể nào tự mình vượt qua được.
Lý do rất đơn giản, đoàn người trước đó đã đi qua rồi, lúc này đầu cầu có lính canh, kẻ xuyên việt không dám cược xem đám lính này là con em nhà ai, hắn phải đợi một đoàn lưu dân khác chỉnh tề hơn để trà trộn đi qua.
Cơ hội đến rất nhanh, chiều hôm ấy, lại xuất hiện một đoàn lưu dân đông đảo nhưng vẫn khá chỉnh tề, trai tráng đi trước đi sau, giữa là đàn bà trẻ con, còn có xe cộ rương hòm, gà chó thú thồ, thậm chí chưa kịp lãnh lương thực đã trực tiếp bước lên cầu phao, Lưu A Thặng không dám chậm trễ, liền vòng ra nửa sau đoàn người, cúi đầu bám theo.
Qua khỏi cầu phao Tứ Thủy, thở phào một hơi, mới nghĩ tiếp theo phải làm sao.
Nào ngờ, người vừa đi được vài chục bước, còn đang trong đoàn, đã nghe sau lưng có tiếng vó ngựa, quay đầu lại, thấy một thiếu niên mặc áo vải cát bố, người thấp mà chắc nịch, đeo cung mang kiếm phóng ngựa tới, chưa tới nơi đã lớn tiếng quát hỏi: "Ngươi là ai, chưa từng gặp bao giờ, sao lại trà trộn vào đoàn đồng hương của chúng ta?"
Nghe câu ấy, mọi người chung quanh trong đoàn cũng dừng lại, vây lấy hắn.
Lưu A Thặng biết mình đã bị bắt quả tang, lại thấy đối phương rõ ràng dáng vẻ ác thiếu, còn mình chỉ vài cân gạo kê, thân cô thế cô, sao dám ương ngạnh? Chỉ học theo dáng vẻ mấy hôm nay thấy được, chắp tay vái trước mặt ngựa, rồi theo cách trong phim ảnh mà nói những lời ngượng nghịu: "Lưu Thặng người quận Tiều, ngàn dặm lưu ly, nay thân cô một mình, bất đắc dĩ mượn nhờ quý hương che chở, để qua được Tứ Khẩu, trong lòng thực lấy làm cảm kích."
Thiếu niên thấp chắc nghe vậy, ngược lại sững người: "Ngươi họ Lưu?"
"Vâng."
"Người quận Tiều?"
"Vâng."
"Nhưng quận Tiều làm gì có họ Lưu chính thống nào... vùng Hoài Tây chẳng phải toàn là Lưu Bành Thành chúng ta hay sao?" Thiếu niên thấp chắc tiếp tục cau mày, xem ra thực sự nghi hoặc. "Giọng ngươi cũng không đúng nữa?"
Lưu A Thặng trong lòng khẽ động, phải biết rằng, trước khi xuyên việt hắn cũng từng đọc vài quyển truyện mạng xuyên việt cao cấp gì đó, cũng học người ta mua vài quyển sách kiểu như "Chính trị môn phiệt Đông Tấn" giở vài trang để trên bàn làm việc cho ra vẻ, trên mạng xã hội diễn đàn cũng từng xem các đại V sử học cãi nhau, sao lại không biết Đông Tấn là thiên hạ của sĩ tộc, hay nói cách khác, ít nhất phải có thân phận sĩ tộc mới có nhân quyền?
Mà lúc này đối phương tỏ thái độ như vậy, rõ ràng là một thành viên gia tộc lưu dân soái xuất thân Lưu thị Bành Thành, sĩ tộc hạng dưới chính thống.
Thực ra, đáng lẽ mình phải sớm nhận ra mới đúng, đoàn lưu dân rõ ràng có tổ chức có kỷ luật thế này, ắt phải có cái gọi là lưu dân soái đặc sắc Đông Tấn dẫn dắt, chứ không phải sĩ tộc thì sao làm nổi lưu dân soái? Không phải sĩ tộc thì lấy đâu ra kiến thức mà bỏ đại quân, chạy thẳng xuống phương nam?
Vừa nghĩ đến đây, một ý nghĩ táo bạo chợt nảy lên, Lưu A Thặng cố lấy hết bản lĩnh lăn lộn chốn công sở ra dùng, cũng không làm bộ làm tịch, chỉ cúi đầu thở dài một tiếng, rồi mới ngẩng đầu mỉm cười: "Không giấu gì huynh đài, tại hạ vốn cũng xuất thân Lưu thị Bành Thành, nhưng một là nhà tại hạ dời tới quận Tiều đã hơn ba đời, hai là trước kia lúc giặc Yết loạn nước, cha ông nhà tại hạ còn lưu lạc lên tận phía bắc, nhân lần này giặc Yết Thạch Hổ mất mạng, mới có cơ hội xuống nam, nhưng lại thất lạc người nhà ở phương bắc... Giờ ra nông nỗi này, nếu còn dám tự xưng là Lưu thị Bành Thành, chẳng phải làm nhục tổ tông hay sao? Nếu có ngày được về lại quận Tiều lập nghiệp thì đã mãn nguyện lắm rồi."
Đúng vậy, Lưu A Thặng quyết định mạo nhận họ Bành Thành!
Nào ngờ, thiếu niên thấp chắc nghe xong chẳng những không xuống ngựa hành lễ, cũng chẳng nghi ngờ rồi lời qua tiếng lại ra tay giết luôn, chỉ lại cau mày thêm lần nữa: "Chẳng trách... nhưng dù sao cũng cùng họ, câu đó nói thế nào nhỉ? Ta cũng quên mất rồi! Dù sao thiếu một người chẳng thiếu, thêm một người chẳng thừa, ngươi cứ theo bọn ta đi! Tìm một toán trai tráng, đừng chen vào đoàn đàn bà trẻ con!"
Nói xong, liền quay ngựa thẳng về phía toán trai tráng phía sau.
Lưu Thặng nhất thời trở tay không kịp, nhưng phản ứng lại rồi không khỏi mừng thầm... dù sao, thân cô thế cô, thất lạc khỏi đoàn cũ mà được một đoàn có tổ chức thế này thu nhận, tỷ lệ sống sót tự nhiên tăng vọt, huống hồ, đối phương rốt cuộc chẳng phản bác chuyện mình mạo nhận họ Bành Thành đó chứ?
Không phản bác, vậy là mặc nhận rồi!
Đây có tính là xuyên việt mở hack không nhỉ?
Nghĩ vậy, Lưu Thặng tự nhiên lại chắp tay vái thêm lần nữa về phía thiếu niên thấp chắc đã quay đầu đi, rồi liền chen vào phía sau đoàn người, đợi đàn bà trẻ con vừa qua, liền tìm đến một toán trai tráng, vội vàng giới thiệu với mọi người chung quanh, trình bày tình hình.
Đoàn người này quả nhiên chẳng tầm thường, chẳng những tự mình có tổ chức cao, còn được quan quân đại Tấn để mắt tới, tối hôm ấy ở lại bờ đông Tứ Thủy, lại có quan quân chủ động tới thương lượng, rồi đếm đầu người, gọi là một người một đấu, mười người một thạch lương, mở ra xem hoàn toàn không có cát sỏi, càng không có chuyện quy đổi bao tải thành lương, chỉ bị người đầu bếp trong đoàn tới lấy đi một nửa đưa về trung tâm đoàn, phần còn lại mới chia đều.
Đến tối ăn cơm, lại là nồi cơm chung, đàn ông một bát rưỡi, đàn bà trẻ con một bát, nỗi lo về lương thực ban đầu cũng lập tức tan biến.
Chưa hết, ăn xong cơm, liền có một vị niên trưởng quấn khăn trên đầu, chính là người đầu bếp ban ngày, tới hỏi Lưu Thặng, đã ăn một bát rưỡi cơm rồi, mai lên đường, dọc đường là nhặt củi hay cắt cỏ? Nếu củi cỏ không đủ tối mai ăn cơm phải giảm nửa, có bằng lòng nhận không? Lưu A Thặng nghe vậy chẳng những không giận, ngược lại mừng rỡ, lập tức nhận lời, rồi lại không nhịn được bám theo vị niên trưởng lắm lời này, xích lại gần bên đống lửa của ông, cứ hỏi mãi về lai lịch đoàn người này.
Quả nhiên, đúng như Lưu Thặng nghĩ, đoàn người sở dĩ được như vậy, tự nhiên là vì có một trụ cột tinh thần.
Lưu Trị, tự Lương Nhậm, vì thời này đặc biệt kỵ húy tên, mọi người trước mặt sau lưng đều chỉ gọi ông là Lưu Nhậm Công, vị Lưu Nhậm Công này bản thân chôn chân dưới đất chưa từng ra làm quan, nhưng cha ông chẳng rõ tên là Lưu Hy Công, lại từng chính thức làm một nhiệm kỳ Nhạn Môn thái thú và một nhiệm kỳ Đại Quận thái thú trước khi đại Tấn Nam độ, được xưng tụng là bậc anh kiệt hùng võ, trụ cột chính thống của Lưu thị Bành Thành.
Cũng chính vì vậy, trên dưới, kể cả quan quân đại Tấn lúc này đều công nhận vị Lưu Nhậm Công này, xem ông như một lưu dân soái chính thống, chẳng dám khinh suất coi thường.
Còn thiếu niên thấp chắc gặp ban ngày, chính là con út của Lưu Nhậm Công, tên thật là Lưu Kiến, nhưng chẳng ai gọi cái tên này, mọi người đều gọi hắn là Lưu Hổ Tử hoặc Lưu A Hổ, người này tính tình thô lỗ, vốn thích cung ngựa, từ nhỏ hay gây chuyện, hiện phụ trách việc bảo vệ đoàn người.
So với hắn, hai người anh, một tên Lưu Thắng, một tên Lưu Bồi, vì tuổi còn chưa đến mức phải kỵ húy tên, trên dưới đều chỉ biết đại danh, không gọi tiểu danh.
"Tam A Công, con có một chuyện không hiểu." Lưu A Thặng càng thêm yên tâm, không khỏi nhớ lại lý do mình quyết tâm xuống nam, rồi tò mò hỏi. "Giặc Yết đã chết cả rồi, đại đô đốc Bắc phạt thanh thế lớn thế này, ắt phải thành công chứ? Mà Nhậm Công ở Bành Thành lại có cơ nghiệp lớn thế này, bao nhiêu người ủng hộ, theo lời ông nói, bảy tám cái vây làng, mấy nghìn hộ, cả vạn người đều phục ông, sao không ở lại đây lập công lập nghiệp, còn phải xuống nam làm gì?"
"Ai mà biết được?" Vị lão bộc họ Lưu bị kẻ xuyên việt bám theo, tức người ta gọi là Lưu Tam A Công, cũng bị hỏi cho ngẩn người, chỉ vê vê chòm râu bẩn bên đống lửa không nói. "Nhậm Công ắt có ý nghĩ riêng của ông ấy."
Lưu A Thặng gật đầu, liền ngả người dựa vào một con dê chẳng rõ của nhà ai bên gò đất cạnh đó chuẩn bị ngủ, dù sao, hắn vốn cũng chẳng định moi được bao nhiêu tin tức có giá trị từ miệng đám dân quê này, dò được lai lịch gia tộc lưu dân soái này đã là khá lắm rồi... đường còn dài, chuyện sau này tính sau.
"Nghe người ta nói, xuống tới phương nam chúng ta đều là bạch tịch, bạch tịch thì không phải nộp thuế không phải đi lính." Ngay lúc ấy, một người không họ Lưu phía sau con dê bỗng chen miệng vào. "Ở lại phương bắc, tuy có đất, nhưng loạn lạc thủy hạn sâu bọ thế này cũng chẳng trồng trọt được gì, mười năm có tám năm mất mùa, chi bằng theo Nhậm Công xuống nam, tìm chỗ khác khai khẩn, xem có sống nổi không."
"Ta hỏi thằng em họ này vì sao Nhậm Công xuống nam, không phải hỏi các ngươi." Lưu A Công lập tức bác bỏ người này.
Kẻ chen miệng gật đầu, không dám nói thêm nữa, những người khác cũng bên đống lửa bàn chuyện khác, chỗ khác xa xa còn văng vẳng tiếng ngáy.
Có thể thấy, dưới thời phong kiến xa xưa này, cộng thêm sự bất định của loạn thế, cùng họ là một thứ dây buộc tự nhiên, tất nhiên, ít ai dám nói dối về chuyện này cũng là một nguyên nhân.
Mà cách đó mấy hơi thở, Lưu A Thặng đang nằm mơ mơ màng màng nghĩ vẩn vơ bỗng giật mình, suýt bật dậy — lưu dân là bạch tịch, bạch tịch không phải đi lính nộp thuế, tự do khai khẩn? Thiên hạ lại có chuyện tốt thế này sao?!
Thật tội, kiếp trước mình vốn là người Hoài Tây, lăn lộn nửa đời cũng chẳng an cư được ở vùng Giang Chiết Hộ, giờ về lại thời phong kiến, còn bị gọi là thời loạn đen tối nhất, chẳng những trực tiếp nhập tịch, còn được miễn thuế ưu đãi, đâu có chuyện tốt thế này?
Nhưng, nhưng nếu là thật, thì... thì phải tính sao đây?
Nói thêm, từ lúc xuyên việt tới giờ, Lưu A Thặng vẫn giữ một vẻ lạc quan bề ngoài nào đó, sở dĩ như vậy, không chỉ vì bản tính khoáng đạt, đến đâu hay đó, mà còn vì gã đã tự cân nhắc rõ trong lòng — mình tuy sa cơ đến mức trắng tay, nhưng đồng thời cũng chiếm được một món lợi lớn — chính là cái thân xác trẻ trung này.
Thân xác mới mười bốn mười lăm tuổi, dung mạo không tính là tuấn tú, nhưng cũng coi là mày rậm mắt to, hình dáng đoan chính, sẹo, chai tay đều có, nhưng cả tháng nay xem ra cũng chẳng bệnh tật gì lớn, xem như tay chân lành lặn.
Thân thể là vốn liếng cách mạng, tuổi tác là khoang chứa sự nghiệp, với tuổi tác và thân xác thế này, luôn khiến người ta có thể mặc sức tưởng tượng vô hạn. Ít nhất so với cái thân xác cận bệnh bị ông chủ vắt kiệt trước kia, quả thực khiến người ta sinh ra một cảm giác tái sinh thực thụ kèm theo cảm giác may mắn.
Mà giờ đây, lại biết xuống tới Giang Nam còn không phải đi lính, không phải nộp thuế, tự nhiên có thể tưởng tượng thêm một bước nữa.
Câu ấy nói thế nào nhỉ, đã đến Đông Tấn Thập Lục Quốc rồi, Đông Tấn nổi tiếng nhất là gì? Ngoài sĩ tộc, Bắc phạt, ngũ Hồ loạn Hoa ra, còn có ổ bảo nữa chứ! Vậy nên, cái việc trung lưu kích thủy, mềm dẻo như ngón tay đeo nhẫn kiểu Bắc phạt thì mình không mong, cái việc một chén rượu một câu thơ, tận hưởng thị thính chi lạc kiểu sĩ tộc môn phiệt cũng chẳng dám mong, nhưng chẳng lẽ không thể phấn chấn tinh thần, phấn đấu làm một ông chủ ổ bảo sao?
Đến lúc đó có ruộng tốt ao đẹp khóm trúc rặng dâu, chẳng biết Ngụy Tấn, chẳng hay có Hán, cái gọi là trời đất không cảm, nhật nguyệt chẳng bàn, tiêu dao khoái hoạt, thậm chí tự thành một cõi đế vương mười dặm.
Chẳng phải đẹp lắm sao?
Đây là gì?
Đây chính là ván bài trời cho vậy!
Kẻ xuyên việt bên đống lửa nhất thời phấn chấn, mãi đến nửa đêm mới lơ mơ chìm vào giấc ngủ.