Kẹt kịt… kịt…
Bên ngoài cửa sổ, những cánh quạt khổng lồ của chiếc cối xay cũ kỹ đang xoay chầm chậm trong làn sương đêm loãng. Mỗi lần kéo theo, cấu trúc của chiếc cối xay lại phát ra một tiếng rên rỉ như thể sắp sụp đổ.
Trong gác mái, ánh sáng chẳng khá hơn bên ngoài là bao, chỉ có vài tia sáng sao yếu ớt lọt qua khe cửa sổ dính đầy bụi bẩn và những tấm ván gỗ mục nát, khẽ phác họa hai bóng hình thấp bé đang ngồi trong góc.
Torin và Grom, hai chàng thợ lùn trẻ với bộ râu chưa kịp xoắn lại thành búi, đang ngồi chật chội trong góc, dưới mông là những bao tải giẻ rách bốc mùi, bốn mắt mở to, dán chặt vào chiếc la bàn Torin đang cầm trên tay.
Trong chiếc la bàn dẫn đường, kim chỉ nam chạm khắc những ký tự cổ xưa đang quay cuồng như con ruồi mất đầu.
“Này, Torin,” giọng Grom vang lên trong bóng tối, đầy nghi hoặc, “cậu là tiểu thư của tộc Lò Sâu đấy nhé, sao lại mang theo thứ đồ tạp nhạp như thế này?”
Anh ta cố chọt khuỷu tay vào người bạn, suýt làm chiếc la bàn văng khỏi tay Torin.
Torin vội vàng giữ chặt la bàn, cáu kỉnh lẩm bẩm: “Tôi là tiểu thư cái gì chứ… Nhưng cái này tôi mang thẳng từ nhà đấy! Dù tôi không hứng thú với việc vung búa, nhưng tay nghề của tộc Lò Sâu ngay cả than xỉ cũng đáng tin cậy! Biết đâu viên đá chỉ đường bên ngoài gặp trục trặc!”
“Phụt—!” Grom như nghe được trò đùa vui nhất thế kỷ, suýt bật cười, vội vàng bịt miệng, vai rung lên vì nén cười, “Nghe như viên đá chỉ đường không phải do tộc Lò Sâu chế tạo ấy nhỉ, Torin, cậu bị đèn hầm soi vào đầu rồi à? Đó là viên đá chỉ đường ‘Tam Tộc Cộng Thủ’! Làm từ tinh kim tâm núi! Những ký tự trên đó cũ kỹ đến mức có thể làm bia mộ cho cụ cố của chúng ta! Mà nó hỏng thì có ma mới tin!”